Tối ngày 3 tháng 1 năm 1861, cha Hoan nằm nín thở trong một ổ rơm. Ngoài kia, quân lính đang đánh một giáo dân để bắt khai chỗ cha trốn. Mỗi tiếng roi quất xuống là một tiếng gọi. Và ông linh mục sáu mươi ba tuổi đã không thể nằm yên được nữa.
Cậu bé làng tơ lụa
Gioan Đoạn Trinh Hoan sinh năm 1798 tại làng Kim Long, Phú Xuân, gần kinh thành Huế. Cha mẹ cậu là những giáo dân đạo hạnh, sống bằng nghề canh tơ dệt lụa. Tiếng khung cửi lách cách trong nhà, những cuộn tơ vàng óng, những buổi kinh tối, đó là tuổi thơ của cậu.
Một người cậu là linh mục nhận dạy cậu học chữ, học tiếng Latinh. Thấy cậu sáng dạ và đạo đức, người ta gửi cậu sang tận chủng viện Penang, bên kia biển. Một cậu bé làng Kim Long lần đầu xa quê, học trong một ngôi trường giữa những con người đến từ nhiều xứ sở.
Người làm cho lời Chúa nói tiếng Việt
Trở về quê hương, thầy Hoan được giúp Đức cha Taberd, tên Việt là Từ, trong việc phiên dịch sách đạo. Đó là một công việc âm thầm mà quý giá: làm sao để giáo lý, kinh nguyện, Lời Chúa được nói bằng tiếng mẹ đẻ, để một bà cụ ở quê, một đứa trẻ chăn trâu cũng hiểu được.
Năm 1836, thầy chịu chức linh mục tại Sài Gòn, giữa lúc cơn cấm đạo thời Minh Mạng đang lên. Từ đó, cha đi qua nhiều nhiệm sở. Hai mươi lăm năm làm linh mục, phần lớn là những năm phải trốn tránh, đi đêm về hôm, dâng lễ trong những căn nhà đóng kín cửa. Nhưng cha vẫn đi, vì cả đời cha chỉ có một ước muốn: đem Chúa đến cho người Việt, bằng lời người Việt.
Đêm ở nhà ông trùm
Đầu năm 1861, triều Tự Đức siết chặt lệnh cấm đạo. Cha Hoan đến trú ở nhà ông trùm Matthêu Nguyễn Văn Phượng, một ông lang ở họ Sáo Bùn, Quảng Bình, để ban bí tích cho giáo dân quanh vùng.
Có người đi báo quan. Tối 3 tháng 1, lính phục kích quanh nhà. Cha Hoan chui vào ổ rơm để trốn. Quân lính không tìm thấy, liền đánh đập những người trong nhà để bắt khai.
Nằm trong đống rơm, cha nghe hết. Cha nghe tiếng roi, tiếng người rên, tiếng quát tháo. Những con người ấy đang chịu đòn thay cho cha. Cha có thể tiếp tục nằm im, và biết đâu, sẽ thoát.
Nhưng một người mục tử không thể nằm yên khi đàn chiên chịu đòn vì mình. Cha Hoan tự bước ra khỏi ổ rơm và nộp mình.
Người tù khiến lính canh mềm lòng
Cha bị giải về Đồng Hới cùng ông trùm Phượng và mấy người khác. Quan muốn cha bước qua thập giá. Quan muốn cha khai ra chỗ các giám mục, các thừa sai đang ẩn náu. Cha bị tra tấn nhiều lần. Cha không bước, không khai.
Điều lạ là trong ngục, cha vẫn hiền lành, khoan dung, không một lời oán giận. Dần dần, chính những người canh giữ cũng mềm lòng. Họ để cho các nữ tu và giáo dân vào thăm, mang đồ ăn, thuốc men, và cả Mình Thánh Chúa. Song sắt vẫn còn đó, nhưng nhà tù đã có Chúa ở cùng.
Lời từ biệt
Rạng sáng ngày 26 tháng 5 năm 1861, bản án được đọc lên: "Tội phạm tên Hoan, nghề nghiệp đạo trưởng, truyền bá tà đạo trong dân, bị xử chém đầu."
Trước khi ra pháp trường, cha quay lại với những giáo dân đang đứng tiễn và nói những lời cuối cùng:
"Anh chị em hãy theo gương tôi, như chính tôi đã theo Đức Kitô, hãy sống trong bình an của Ngài và cầu nguyện cho tôi."
Cùng ngày hôm ấy, ông trùm Matthêu Phượng, người đã mở cửa nhà cho cha, cũng lãnh án chém. Chủ và khách cùng về nhà Cha trên trời.
Cha được phong Chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và được tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngày kính riêng của cha là 26 tháng 5. Trên bia mộ, họ của cha được ghi là Đoạn, dù có tài liệu viết là Đoàn.
Không để ai chịu đòn thay mình
Cả đời cha Hoan là để người khác được gần Chúa hơn: dịch sách để họ hiểu, đi đêm để họ được lãnh bí tích. Và đến phút quyết định, cha cũng không để ai phải chịu đau thay mình.
Có lẽ không cần tìm đâu xa định nghĩa về một người mục tử. Đó là người bước ra khỏi ổ rơm.