Các Thánh Bổn Mạng
‹ 117 Thánh Tử đạo Việt Nam

Vị thứ 46 trong 117 · Giáo dân

Thánh Phêrô Phan Hữu Đa

Người thợ mộc kéo chuông nhà thờ

1802 – 1862 · Kính ngày 17 tháng 6

Thợ mộc, quê Ngọc Cục, tỉnh Nam Định · Người Việt

Mỗi sáng mỗi chiều ở Ngọc Cục, có một người lặng lẽ kéo chuông nhà thờ. Mỗi khi có thánh lễ, cũng người ấy lo dọn đồ lễ trên bàn thờ. Ông không phải linh mục, không phải thầy giảng. Ông chỉ là một người thợ mộc. Và ông sẵn lòng làm những việc nhỏ nhất cho nhà Chúa.

Đôi tay người thợ

Phêrô Phan Hữu Đa sinh khoảng năm 1802 tại làng Ngọc Cục, tỉnh Nam Định, trong một gia đình lao động nghèo. Lớn lên, ông học nghề mộc.

Nghề mộc là nghề của đôi tay và sự kiên nhẫn. Bào từng thớ gỗ, đục từng mộng, ghép từng chiếc bàn, chiếc ghế, cánh cửa. Ông lập gia đình, nuôi vợ con bằng chính đôi tay thợ ấy. Một mái nhà nề nếp, sống đạo hạnh, không giàu nhưng đủ đầy.

Ngoài giờ làm ăn, ông dành thời gian cho nhà thờ. Ông kéo chuông, chuẩn bị đồ lễ. Nghe thì nhỏ bé, nhưng mỗi buổi kinh, mỗi thánh lễ đều cần có người lặng lẽ làm những việc ấy. Không ai để ý đến người kéo chuông, cho đến ngày tiếng chuông im bặt.

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà một người thợ mộc lại gần gũi với nhà Chúa đến thế. Chúa Giêsu cũng đã từng là người thợ mộc ở Nadarét.

Bị bắt

Năm 1861, lệnh phân sáp của vua Tự Đức được thi hành ở Nam Định. Ông Đa bị bắt, giải về phủ Xuân Trường, rồi bị đày đến làng Quá Linh.

Người ta tra tấn ông, ép ông bước qua thập giá. Ông không làm theo. Những ngày tháng ấy kéo dài gần một năm. Ở nhà, vợ con ông sống ra sao, không ai ghi lại. Chỉ biết rằng tiếng chuông nhà thờ Ngọc Cục mỗi sáng giờ do một bàn tay khác kéo, hoặc không còn ai kéo nữa.

Lời cảm ơn và lời từ chối

Quan tổng đốc gọi ông ra, khuyên dụ, hứa tha cho ông về với gia đình nếu chịu bước qua ảnh tượng Chúa. Ông Đa trả lời, lễ phép mà dứt khoát:

"Nếu quan tha và cho về với gia đình thì tôi đa tạ quan; còn việc bước lên ảnh tượng Chúa tôi, thì dứt khoát là không bao giờ tôi nghe lời quan."

Một người thợ quê mùa, nói năng mộc mạc, nhưng biết phân biệt rõ ràng. Ông cảm ơn thiện ý của quan, vì ông là người biết lễ độ. Nhưng điều gì đã thuộc về Chúa thì ông không đem ra đổi chác.

Ngọn lửa ngày 17 tháng 6

Ngày 17 tháng 6 năm 1862, ông Đa bị kết án thiêu sống. Ngọn lửa bùng lên. Khi lửa sắp tàn, quân lính thấy ông có thể vẫn còn sống, liền dùng dao chém đầu ông.

Vợ ông cùng các tín hữu đã đến, lặng lẽ chôn cất thi hài ông ngay tại pháp trường. Năm sau, họ cải táng ông về quê nhà Ngọc Cục.

Hãy nghĩ đến người vợ ấy. Gần một năm chờ chồng, để rồi cuối cùng chỉ được nhận lại thi hài ông từ tro than. Và bà vẫn đến, vẫn lo liệu, vẫn đưa ông về quê.

Ông được phong Chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951 và được tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngày kính riêng của ông là 17 tháng 6.

Việc nhỏ, lòng lớn

Cái chết của ông Đa rất dữ dội. Nhưng xin đừng để nó che lấp nửa đời trước của ông: một người thợ mộc chăm chỉ, một người cha tận tụy, một người âm thầm kéo chuông, dọn đồ lễ cho nhà thờ làng.

Chính những việc nhỏ ấy, làm đều đặn qua năm tháng, đã chuẩn bị cho ông một trái tim đủ lớn để đi đến cùng. Mỗi giáo xứ hôm nay cũng vẫn có những người như ông Đa: người quét nhà thờ, người cắm hoa, người kéo chuông. Họ có thể chính là những vị thánh ta chưa kịp nhận ra.

Tiểu sử trên trang Hội đồng Giám mục Việt Nam ↗

Cùng được phúc tử đạo năm 1862

và 11 vị khác cùng năm 1862.