Gia phả họ Phạm ở Quần Cống còn chép một chuyện nhỏ. Gia nhân trong nhà vay tiền, vay thóc, ông chủ chỉ đòi một nửa; ai túng quá thì ông cho luôn. Bà vợ có lần phàn nàn, ông đáp:
"Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình."
Người nói câu ấy là ông Giuse Phạm Trọng Tả, dân làng quen gọi là Cai Tả.
Chánh tổng của làng quê
Ông sinh năm 1800 tại Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, cùng một nhà với cụ Án Khảm và ông Luca Phạm Trọng Thìn.
Ông làm chánh tổng, thứ chức việc lo thuế khóa, sổ sách, nợ nần của cả một vùng. Đó là chỗ người ta có đủ cách làm giàu, và cũng đủ cách làm khổ người khác. Ông chọn sự minh bạch và một bàn tay rộng rãi.
Ông còn là thành viên Huynh đoàn Đa Minh, sống đạo ngay giữa việc nhà việc làng. Không phải trong tu viện, mà trong cuốn sổ nợ, trong cách đối xử với gia nhân, trong từng quyết định nhỏ mỗi ngày.
Mùa Tết ở nhà ông Cai
Gia phả kể thêm: nhà ông có nhiều người làm. Chưa đến Tết, ông đã đi thăm từng nhà. Ai biếu ông món quà gì, ông mừng lại gấp đôi. Nông dân nợ thóc, ông giảm bớt. Ai túng quá thì ông xóa hẳn.
Hãy thử hình dung những ngày giáp Tết ở Quần Cống năm ấy. Những gia đình nghèo đang lo không biết lấy gì trả nợ, lấy gì sắm Tết. Rồi ông chủ đến, không phải để đòi, mà để tặng. Có lẽ nhiều nhà đã có một cái Tết ấm hơn nhờ ông.
Bà vợ có lần lo ông cho đi nhiều quá. Và ông đã trả lời bằng câu nói mà con cháu ông nhớ mãi: mình quên nợ người, Chúa quên tội mình. Đó chính là lời kinh Lạy Cha, được sống ra trong cuốn sổ nợ của một ông chánh tổng: "Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con."
Lời thỉnh cầu không được nghe
Năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng. Cơn cấm đạo dâng cao. Đức cha Melchor García Sampedro, tên Việt là Xuyên, nhờ ông Tả và ông Thìn lên gặp quan tổng đốc Nam Định, xin nương tay với giáo dân và xin cho họ được tỏ lòng trung thành với triều đình.
Đó là một sứ mạng đầy thiện chí. Nhưng đúng lúc ấy, trong vùng xảy ra một vụ nổi loạn. Quan tổng đốc cho rằng mình bị lừa, liền ra lệnh bắt. Ông Tả, ông Thìn, cụ Án Khảm và nhiều người Quần Cống bị giải về tỉnh.
Người đi xin hòa bình lại bị coi là kẻ lừa dối. Có lẽ đó là nỗi đau lớn của ông Cai Tả: không phải vì mình bị bắt, mà vì thiện chí của mình bị hiểu lầm.
Bốn tháng trong ngục
Lúc bị bắt, ông đã gần sáu mươi tuổi. Ông ở trong ngục khoảng bốn tháng, chịu gông cùm và đòn roi. Nhưng ông không một mình. Cùng bị giam có những người trong nhà, những người cùng làng. Họ cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau chờ đợi.
Ngày 13 tháng 1 năm 1859, ông cùng cụ Án Khảm, ông Thìn và bảy tín hữu khác chịu án xử giảo tại pháp trường Bảy Mẫu. Người làng rước thi hài các ông về Quần Cống an táng.
Ông được phong Chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951 và được tôn phong Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngày kính riêng của ông là 13 tháng 1.
Trong cuốn sổ nợ
Dấu hiệu thánh thiện của ông Cai Tả có sẵn từ lâu, trong cuốn sổ nợ của nhà mình. Một người đã quen tha nợ cho kẻ nghèo có lẽ cũng không thấy quá khó khi phải trao nốt mạng sống của mình.
Mỗi lần đọc kinh Lạy Cha, có lẽ chúng ta có thể nhớ đến ông Cai Tả, và tự hỏi: trong đời mình, có món nợ nào, có lỗi lầm nào của người khác mà mình cần "quên" đi chăng?